Website thông tin du lịch Thành phố Chí Linh - Hải Dương

http://dulichchilinh.com


Chùa Thanh Mai

Chùa Thanh Mai là một trong những cơ sở quan trọng của thiền phái Trúc Lâm Tam tổ Việt Nam, có quan hệ mật thiết đến cuộc đời và sự nghiệp của Pháp Loa thiền sư.
Theo văn bia tại di tích thì chùa Thanh mai được xây dựng trên núi Phật Tích, nay gọi là núi Tam Ban  xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh.
            
Đầu thế kỷ này, Thanh Mai còn là chốn rừng thiêng nước độc, rùng rợn với câu ca: “nước Thanh Mai đi hai về một”. Nghĩa là cứ hai người đến Thanh Mai thì không bao lâu sau chỉ một người trở về. Vì thế mà đầu thế kỷ 6 Thanh Mai chỉ là một xóm nhở gồm 6 dân tộc. Hiện nay Thanh Mai là một thôn trù phú xanh mướt có những cây ăn quả và là xã còn giữ được rừng tự nhiên lớn nhất của tỉnh.  
 
Chùa Thanh Mai 

Rừng tự nhiên ở đây điển hình với hai loại cây trám và dẻ cùng nhiều loại gỗ quý như lim, sến, lát… Mỗi năm khi mùa đông tới, hoa dẻ nở trắng rừng còn lá trám ngả màu vàng rực tạo nên bức tranh thiên nhiên độc đáo của Thanh Mai. Chim thú trong rừng Thanh Mai khá phong phú với mật độ cao, nay đã bị săn bắn nhiều nhưng gần đây người ta vẫn thấy gà lôi, lợn rừng và nhiều lọai thú quý hiếm.
            
Chùa Thanh Mai xây dựng trên sườn núi, bên một con suối nhỏ, nhìn về phía nam. Trước chùa là núi Bái Vọng nơi có phần mộ của Nguyễn Phi Khanh – thân phụ Nguyễn Trãi. Nay chùa đang được khôi phục từng phần trên di tích của một công trình lớn gồm: tiền đường 7 gian, tam bảo 5 gian, hai dãy hành lang, nhà tổ, nhà tăng. Phía sau là tháp Viên Thông, xây dựng từ năm 1334. Phía trước có 7 ngôi tháp. Tại di tích còn 7 tấm bia có giá trị trong đó  Thanh mai Viên Thông tháp bi có gia trị lớn hơn cả. Có thể nói đây là một bảo vật của quốc gia. Văn bia nói về thân thế và sự nghiệp của đệ nhị tổ thiền phái Trúc lâm, nhưng qua đó có thể thấy được tình hình chính trị, tôn giáo, ruộng đất đương thời và những hoạt động của Trúc Lâm Tam tổ: Trần Nhân Tôn, Pháp Loa và Huyền Quang.  

Căn cứ văn bia thì: Pháp Loa nguyên là Đồng Kiên Cương sinh ngày 7 tháng 5 năm Giáp thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 (1284), tai thôn Đồng Hòa, hương Cửu La, Nam Sách Giang, nay thuộc xã Ái Quốc huyện Nam Sách. Năm Hưng Long 13 (1304) nhân chuyến đến thăm hương Cửu La của Trần Nhân Tôn, Đồng Kiên Cương ra bái yết, Nhân Tôn nhận thấy Kiên Cương là con người có đạo nhãn, nghĩa là có khả năng tu hành đắc đạo. Ông cho Pháp Loa đi theo học đạo và đặt cho một cái tên mới: Hỷ Lai, nghĩa là người mang lại niềm vui, Hỷ Lai thông minh hiếu học có nhiệt tâm với đạo phật nên chỉ một năm sau, tại liêu Kỳ lân ( Chí Linh) ông được Điều Ngự đầu đà Trần Nhân Tôn ban cho pháp hiệu là Pháp Loa. Tháng 2 năm Hưng Long 15 (1307) Trần Nhân Tôn đã trao cho Pháp Loa các bảo bối. Và ngày mùng 1 tháng giêng năm Hưng Long 16 trao quyền thừa kế sự nghiệp của thiền phái Trúc lâm Tam tổ. Từ đó ông trở thành vị tổ thứ 2 của thiền phái này.
            
Ngày mùng 5 tháng 2 năm Khai Hựu thứ 2 (1330) Pháp Loa đang giảng kinh ở viện An Lạc thì đột nhiên mắc bệnh. Ngày 13 sư về viện Quỳnh lâm ( Đông Triều) tĩnh dưỡng. Ngày 19 bệnh trở nên trầm trọng. Thấy khó qua khỏi, Pháp Loa cho mời Huyền Quang đến trao cho những bảo bối mà 22 năm trước Trần Nhân Tôn trao cho ông trước khi qua đời như áo cà sa, kệ tả tâm… và nói: “ Huyền Quang sẽ là người hộ trì và thừa kế”.
 Đêm ngày mùng 3 tháng 3, Pháp Loa viên tịch tại viện Quỳnh Lâm. Theo di chúc của nhà sư, xá lỵ của người được đặt trong tháp sau chùa Thanh Mai. Thái Thượng hoàng Trần Minh Tông ngự bút đặt tên hiệu cho sư là Tĩnh Trí tôn giả và tên tháp là Viên Thông, xuất ngân khố 10 lạng vàng cho xây tháp và làm một bài thơ viếng đầy xúc cảm. Đây  là ân sủng hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Kể từ đó, sự nghiệp của Thiền phái Trúc Lâm do Huyền Quang chủ trì và trở thành vị tổ thứ 3 của thiền phái này. Huyền Quang từng chủ Trì chùa Thanh Mai 6 năm.

 
            
Cuộc đời của Pháp Loa không dài nhưng đã làm nên sự nghiệp lớn. Ông đã đào tạo một thế hệ học trò xuất sắc hơn 30 người, nuôi dạy 15.000 tăng ni, đúc trên 1300 pho tượng lớn nhỏ. Xây dựng hàng trăm chùa tháp, tiêu biểu là các trung tâm tôn giáo Yên Tử, Côn Sơn, Thanh Mai và viện nghiên cứu Phật giáo Quỳnh Lâm. Những công trình này đều trở thành di sản văn hóa quý báu của dân tộc. Ông cho vẽ nhiều bộ tranh tượng, khắc in bộ kinh Địa Tạng và giành nhiều thì giờ thuyết pháp, giảng kinh. Ông thừa kế, phát triển thiền phái Trúc Lâm Việt Nam lên đỉnh cao.
            
Trong quá trình điền dã và thám sát, người ta đã tìm được một hệ thống kiến trúc tương tự như một ngôi chùa thứ hai cùng thời với Thanh Mai, cách chùa Thanh Mai 400m về phía bắc, ở độ cao 300m. Cũng từ đây đi về phía bắc 2 km tại khu vực Hố Bắc ở độ cao 500m còn tìm thấy nền và tảng của 2 ngôi chùa lớn mà niên đại xây dựng không muộn hơn thế kỷ XVII.

 
 
Chùa Thanh Mai là một trung tâm tôn giáo của thiền phái Trúc Lâm ở chốn rừng sâu, núi cao. Sự hiện diện của di tích đã chứng minh cho tính phi thường của tôn giáo thời Trần. Tại đây còn một rừng cổ thụ do con người trồng giữa đại ngàn tự nhiên, một hệ thống tháp và bia ký có giá trị, tiêu biểu là bia “Tháp Viên Thông’. Chính vì vậy khu di tích cùng rừng tự nhiên đã được nhà nước khoanh vùng bảo vệ, từng bước trùng tu, tôn tạo nhằm bảo tồn một di sản văn hóa, tạo một điểm tham quan du lịch hấp dẫn về văn hóa và cảnh quan tự nhiên. Kỷ niệm ngày mất của Pháp Loa đã trở thành hội chùa hàng năm. Hội bắt đầu từ mùng 1 đến mùng 3 tháng 3. Tuy nhiên do cảnh quan kỳ thú mà Thanh Mai không vắng khách tham quan.

Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa tâm linh và những kiến trúc truyền thống,  Chùa Thanh Mai  đã được Bộ Văn Hóa Thông tin xếp hạng Quốc gia.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây